Viết function trả về string là một ý tưởng tồi!

519

Bài viết được sự cho phép của tác giả Nguyễn Việt Hưng

Function là gì?

Function là một phần tất yếu của mọi phần mềm. Một chương trình (Python) không bắt buộc phải có function, nhưng nó là cách làm cơ bản, phổ biến nhất, tương tự như những ngôn ngữ lập trình khác. Về bản chất, function là một khái niệm / cơ chế để dùng lại code. Thay vì viết một đoạn code nhiều lần mà mỗi lần chỉ thay đổi chút chút, ta viết một function, nhận vào các tham số khác nhau.

  1001 Tips: Con trỏ và hàm (Pointer & Function) trong C++
  5 kinh nghiệm khi viết arrow function

Đầu vào và đầu ra

Chuyện một function nhận đầu vào, xử lý và trả về đầu ra thì ai cũng biết. Phần đầu vào luôn phải được định nghĩa rõ ràng đầy đủ (trừ *args và **kwargs – thì có chúa mới biết function nhận những cái gì!), nhưng phần đầu ra thì không có quy tắc cụ thể nào. Vậy nên mới xảy ra chuyện, ai thích làm gì thì làm, và thường thì người ta sẽ làm khá tệ khi không có quy tắc nào.

Đây là một trường hợp phổ biến, hãy tưởng tượng 1 đoạn code làm nhiệm vụ CO_KHA_THI. Đầu vào dễ dàng định nghĩa những thứ ta cần cho vào, tên người dùng chẳng hạn:

def CO_KHA_THI(username):
    pass

Đầu ra là gì? chuyện này không dễ dàng thống nhất. Xét về mặt nhiệm vụ, function này chỉ có thể có 2 khả năng: thành công, hoặc thất bại. Bạn có thể tạo user, hoặc không tạo được, chấm hết. Trong nhóm chỉ có 2 kết quả trái nhau như vậy, rõ ràng boolean là ứng cử viên sáng giá, thành công: return True, thất bại return False. Nhưng nếu thất bại, bạn muốn biết lý do (user đã tồn tại, vượt quá giới hạn số lượng user, …) thì làm thế nào?

Vậy là giải pháp return string ra đời.

Return string?

Nếu thành công, return "Success", nếu thất bại vì username đã tồn tại, return "Failed user exists", nếu thất bại vì quá giới hạn, return "Failed limit exceeded", … tiếp tục như vậy với những lý do thất bại khác.

Function này làm tốt nhiệm vụ của nó, nhưng đầu ra giờ là một trời khả năng. Thay vì 2, giờ ta có N khả năng xảy ra. Thì sao?

Không sao cả, cho đến khi có ai đó gọi function này.

username = "laptrinhvien"
result = CO_KHA_THI(username)
if result == "Success":
     print("Added user {}".format(username))
elif result == "Failed limit exceeded":
...
elif result == "Failed user exists":
...
...

Người gọi function CO_KHA_THI phải biết tất cả các khả năng mà function này trả về, và cách duy nhất để làm điều đó là ngồi đọc toàn bộ code của function CO_KHA_THI. Function này có thể vài dòng, nhưng cũng có thể là vài chục dòng, vài chục câu if else… nếu việc sử dụng 1 function yêu cầu bạn phải đọc code của function đó, thì đó là một function tồi.

Ta không cần biết math.sqrt tính căn 2 như thế nào, ta chỉ cần đưa đầu vào, và sẽ thu được kết quả ở dạng số float. Ta chỉ cần đưa đường dẫn vào requests.get và nhận kết quả của HTTP GET requests đó, không cần biết nó làm thế nào.

Xử lý lỗi

Khi lỗi xảy ra thì sao?

Mỗi ngôn ngữ lập trình có cách xử lý lỗi khác nhau – khái niệm này gói chung vào từ khóa “error handling”.

Chuyện gì xảy ra khi lấy căn bậc 2 của -2? Python sẽ “raise” (tung ra) một Exception object:

In [2]: math.sqrt(-2)
---------------------------------------------------------------------------
ValueError                                Traceback (most recent call last)
<ipython-input-2-750cdbc9cc40> in <module>()
----> 1 math.sqrt(-2)

ValueError: math domain error

Ta dùng try/except để xử lý khi có exception xảy ra.

Golang sử dụng cơ chế khác: một function thường trả về lỗi, và kết quả. Nếu không có lỗi, giá trị lỗi là nil (tương đương None của Python). Việc gọi 1 function trong Golang thường trông như sau:

ok, value = call_function(arg1, arg2)
if ok != nil {
   Xử  lỗi xảy ra dựa trên giá trị cụ thể của ok
} else {
   Tiếp tục xử  value thu được.
}

Mỗi cách làm sẽ có ưu nhược điểm khác nhau. Trong Python, ta có thể làm tương tự như Golang, với ví dụ function CO_KHA_THI, return 1 tuple chứa boolean chỉ định việc thành công hay thất bại, và string chứa thông điệp muốn gửi tới người dùng là một cách làm tốt hơn chỉ trả về string. Người dùng có thể không quan tâm đến lỗi gì, vậy khi đó chỉ cần xử lý dựa trên giá trị boolean. Nếu quan tâm đến lỗi, lúc đó lại phải dựa vào giá trị string. Mà dựa vào string lại khiến vấn đề quay lại từ đầu. Liệu nội dung lỗi là string chữ thường hay chữ hoa? liệu sau này nội dung string đó có bị thay đổi không, nếu có làm sao ta biết? (đọc lại function?!?!!!).

Tạo các exception và raise khi có lỗi là cách làm đơn giản hơn cả. Exception có kiểu, là các class có kế thừa, dễ dàng phân loại các lớp lỗi khác nhau mà không dựa vào string.

class MyException(Exception): pass
class MyFirstException(MyException): pass
class MySecondException(MyException): pass

def do_something(username):
    result = do_job()
    if error1 in result:
        raise MyFirstException(error1)
    elif error2 in result:
        raise MySecondException(error2)
    ...
    else:
        raise MyException("Unknown error: %s" % error_msg)

try:
    do_something('pymi')
except MyFirstException as e:
    print('Failed with error1', e)
except MySecondException as e:
    print('Failed with error2', e)
except MyException as e:
    print('Failed with error not 1 and 2', e)
else:
    print('Success')

Dù dùng cách nào đi nữa, đừng chỉ trả về string – trừ khi function được tạo ra để xử lý string.

Bài viết gốc được đăng tải tại pymi.vn
Có thể bạn quan tâm:
Xem thêm Việc làm Developer hấp dẫn trên TopDev