Stateless là gì? Stateful là gì?

3030

Stateless

Trong lập trình ứng dụng web, chúng ta có sự tương tác giữa client với server. Phần mềm gồm 2 thành phần chính: phần mềm và data. Như vậy, một phần mềm được thiết kế theo tương tác client – server thì phần nhiều tập lệnh sẽ nằm phía server. Client có nhiệm vụ gửi dữ liệu lên để xử lý sau đó nhận kết quả trả về.

Stateless là thiết kế không lưu dữ liệu của client trên server. Có nghĩa là sau khi client gửi dữ liệu lên server, server thực thi xong, trả kết quả thì “quan hệ” giữa client và server bị “cắt đứt” – server không lưu bất cứ dữ liệu gì của client. Như vậy, khái niệm “trạng thái” ở đây được hiểu là dữ liệu.

Stateful

Stateful là một thiết kế ngược lại, chúng ta cần server lưu dữ liệu của client, điều đó đồng nghĩa với việc ràng buộc giữa client và server vẫn được giữ sau mỗi request (yêu cầu) của client. Data được lưu lại phía server có thể làm input parameters cho lần kế tiếp.

Tổng kết và ví dụ

HTTP là một Application Protocol dạng stateless, tương tác client-server theo HTTP thì phần server sẽ không lưu lại dữ liệu của client. HTTP ban đầu chỉ được dùng đơn thuần cho website, client gửi request, server nhận request xử lý rồi trả về lại cho client hiển thị. Sau đó thì kết thúc 1 quy trình. Sau này người ta mới bắt đầu nâng cấp cho phép website giống như một ứng dụng stateful bao gồm html, database (mysql, mongodb…), transaction…

Có 4 cách lưu data của client khi xây dựng Web Application bao gồm: URL Rewriter, Form, Cookie, HTTP Session.